Chiết tự chữ Hán


Giải nét tiếng trung – Chiết tự chữ Hán

Nhờ gia nhập thế giới hủ, mình có niềm hứng khởi, thêm động lực học tiếng tàu, đến nay dù chả thấm vào đâu nhưng muốn mày mò chép lại, vì theo mình trên này không có giải nghĩa tiếng tàu, mà căn bản là rất nhiều nét khó nhớ, nếu biết giải nét chữ nào thì sẽ post lên

giải nghĩa từ – (24/12/2013 : gần đây mới biết nó gọi là chiết tự chữ hán, có nhiều chữ là sưu tầm bên nhà hủ khác hoặc dịch lý Cao Đài (???) ) hoặc thầy Phạm Dương Châu 

kanji hán tự – (31/5/2015 : thử tim thêm các giải nghĩa bên kanji của tiếng Nhật nha.

[ mǎi ] mại = mua :  chữ này gồm chữ 头 [ tóu ] nghĩa là đầu và nét ngang 一 phía trên, thì do ngày xưa người đi chợ thường đội thúng trên đầu

[ shū ] thư = sách : sách thời xưa được làm từ thẻ tre khắc chữ, sau đó đục lỗ xâu lại nên tưởng tượng một chút sẽ thấy. Phồn thể 

Minh  [ míng ] = sáng, gồm chữ nhật  cho ánh sáng ban ngày, bên phải là chữ nguyệt  cho ánh sáng ban đêm.

明天 [ míngtiān ] ngày mai : gồm nhật  và nguyệt , nhật nguyệt luân phiên hết một ngày qua ngày mới

[ yāo ] yểu : ở dưới là chữ – đại nghĩa là to lớn. Ở trên là bộ 丿– phiệt với nghĩa phe phẩy (gió thổi phe phẩy).

  • yêu : chỉ sự non tươi (cây cối), con gái đến tuổi lấy chồng. Người con gái mà cúi đầu (夭) có nghĩa là đồng ý lấy chồng: YÊU
  • yếu : chỉ yếu thế, yếu hèn; ỉu xìu. Người đàn ông không 12h hoặc 9h mà cứ chúc xuống 6h 7h ==> YẾU XÌU, ỈU XÌU XÌU, ÈO UỘT , người đàn ông mà cúi đầu là YẾU thế, YẾU hèn
  • yểu : chỉ người bị chết trẻ, èo uột. Người đang khỏe mạnh ăn cục gạch vào đầu thì chết YỂU. Có rất nhiều cách nhớ rất thú vị.

 [ pín ] BẦN  = nghèo : Trong chữ Bần cấu tạo đến ba phần: trên là chữ bát   (bát là tám), kế đến là chữ đao  (đao là dao dùng để cắt chặt ra); hai chữ này họp lại thành chữ phân  (phân là chia) dưới cùng là chữ bối  (bối là đồng tiền) Có nghĩa rằng sở-dĩ nghèo là vì có nhiều tiền mà cứ phân phát ra cho thiên-hạ giống như ta có một cái bánh mà chia ra làm tám miếng thì tất nhiên nó sẽ nhỏ dần, do đó nghèo. ( giản thể 贫 )

否 [ pǐ ]= Bĩ nghĩa là bế tắc, vận xấu, hỏng, chê bai. Gồm có chữ bất ở trên, chữ Khẩu ở dưới, là ám chỉ con người không có miệng hay nói khác đi dầu cho có miệng cũng không nói được thành lời, dẫu có nói đi nữa là phải nói theo sự đặt để của người khác.

[ fǒu ] phủ = từ chối, không, turn down, phủ định, không đồng ý

開 [ Kāi ] là  khai = mở, nở hoa, mới,   là hình ảnh hai tay đẩy hai cánh cửa (môn là cửa) 門 ra ngoài. Giản thể 

Chính 正  [zhēng] nghĩa là ngay thẳng, không thiên lệch. “Bất thiên tả, bất thiên hữu, bất bạo động”. Phân tích chữ chánh 正 thấy có hai chữ Thượng 上 và Hạ 下 hiệp lại, tức là người có tâm chánh thì không xu nịnh người trên, không hiếp đáp người dưới mà đời cho rằng “Thượng đội Hạ đạp”.

CHỦ  [zhǔ] Tất cả các yếu-lý để làm một con người toàn thiện là phải đủ 4 đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí (tượng chữ vương 王 4 nét). Chữ Chủ 主 sẽ thấy trước tiên là ba vạch liền ☰  tượng trưng cho Tam tài, trên trời, dưới đất, giữa là người. Thêm một nét sổ thẳng qua thành ra chữ Vương 王 . Đặt phía trên một nét chủ.

Cổ 蠱 [gǔ] theo chiết-tự có ba chữ trùng  ở trên chữ mãnh , mãnh là cái chậu; ba chữ trùng là có nhiều sâu bọ trong chậu, có nghĩa là tan rã ghê-tởm, hỗn-độn lúc nhúc như dòi vậy. Nghĩa là côn trùng có nọc độc trong truyền thuyết, bị đầu độc, bỏ bùa chú=> bị điên. Giản thể 

CUỒNG 狂 [kuáng] : Chữ Cuồng nghĩa là điên. Theo phép Lục thư chánh tả thì chữ này gồm có bộ khuyển (犭) viết đủ nét 犬 là con chó và chữ Vương 王 là vua.

Đạo 道 [dào] bắt đầu chấm hai chấm là Âm Dương nhị khí, kế dưới một nét ngang tức là Âm Dương hợp lại, dưới chữ tự  (6 nét) nghĩa là tự nhiên mà có, con người cần phải tự lập, tự tri, tự giác. Trên dưới ráp lại thành chữ thủ  (9 nét). Chữ thủ nghĩa là ban sơ, lúc ban đầu, khởi thuỷ. Kế là bộ Sước (3 nét) nghĩa là chạy, “pháp luân thường chuyển”. Nghĩa: nói, con đường, nghề, tôn giáo

Điểu 鳥 [niǎo] (bộ điểu -11 nét): Người ta lấy hình ảnh chim quạ “Đen lông đen cánh bộ giò cũng đen”  và đôi mắt trắng đại diện loài chim, nên chữ điểu gồm chữ Ô 烏 (10 nét) màu đen, thêm một gạch ở trên tượng cho con mắt thành 11 nét. Giản thể 

Đông 東 [dōng] có hai phần: chữ nhựt  ở giữa, bộ mộc  xuyên qua chữ nhựt, có nghĩa là mặt trời khi vừa nhô lên khỏi ngọn cây. Giản thể 

Đức 德 [dé] Nói rằng “Thiên địa hợp kỳ đức” 天 地 合 其 德 tức nhiên Trời đất hợp nhau bởi Đức.

  • “Con chim nó đậu nhánh mè, Thập trên tứ dưới nhứt đè chữ tâm”
  • Bên trái là bộ sách là bước chân trái, là khởi đầu, có ba nét thể hiện lý Tam tài. Bên phải thì từ trên xuống là chữ thập chữ tứ  chữ nhứt 一 chữ tâm  tức nhiên là nói về con người đứng trong trời đất: Trên là mười phương trời, giữa là Người đứng đầu trong bốn hàng phẩm của chúng sanh là vật-chất, thảo-mộc, thú cầm. Chữ Nhứt là duy tâm, duy nhất, đứng đầu trong vạn loại, người được cao trọng như vậy nhờ có chữ Tâm. Phồn thể 惪

Giải 解 [jiè] giải pháp .  Bên trái là chữ Giác 角 là cái sừng. Bên phải là chữ đao  ở trên, là con dao, chữ ngưu  dưới (ngưu là trâu). Tức nhiên muốn giải quyết cái sừng ra khỏi đầu con trâu thì phải dùng con dao mà mổ lấy ra.

i 雷 [léi] là sấm thuộc bộ Vũ 雨 là mưa và dưới là chữ Điền 田 (ruộng). Tức nhiên khi có hiện tượng mưa thì sấm vang rền, mưa trút nước xuống tưới lên ruộng đồng.

Hiếu 孝 [xiào] họp bởi trên là Thổ土 nghĩa là đất, chỉ sự bao dung, đầm ấm của tình mẹ lo cho con. Dưới là chữ Tử 子 là con.

Hòa  [hé] = hòa bình, an bình. Bên trái của chữ, có chữ Hoà  là cây lúa (lúa là nguồn sống để nuôi sống thể hài, là vật-chất), bên phải là chữ khẩu  là cái miệng dùng để ăn uống, nói tượng trung cho tinh thần)
– đây được coi là chữ mang tinh thần văn hóa Trung Quốc đậm nét nhất. Chữ hàm ý về hòa bình, sự cân bằng, hài hòa,”cái miệng mà có đủ lúa mà ăn thì sống sẽ hòa hợp”

Tình 情 [qíng] là một sự cảm mến thân thiết  nhau. Nếu kể sự dài và lâu phải nói đến tình cảm vợ chồng. Chữ này họp bởi bộ Tâmlà tấm lòng với chữ Tinh 青 là cái tinh tuý, tốt lành.

 Học  [xué] thấy có hai phần: phần trên là hình ảnh người Thầy hai tay cầm roi đứng dưới mái nhà đang dạy trẻ, phía dưới là chữ tử 子 Điều này chứng tỏ sự giáo huấn ngày xưa rất nghiêm khắc. Giản thể 学

Hoặc或 [huò] là thay đổi. Nếu ghép chữ hoặc này với bộ vi 囗 thành ra chữ Quốc 國 có nghĩa là đất nước có thể thay đổi thể chế . Còn nếu đất nước có vua thật sự thì bên trong bộ vi có chữ vương, 国 .  Thêm bộ tâm vào phía dưới thành ra chữ Hoặc 惑 [huò] là một nghi-từ có nghĩa là nghi ngờ, đánh lừa

Kiền乾  [qián] phần bên trái có hai chữ thập (thập là mười) chữ thập ở trên tượng-trưng “thập phương chư Phật” chữ thập dưới là “Thập điện Diêm cung” giữa là chữ nhựt  là mặt trời, chỉ không gian vũ trụ mà vạn-loại đang sống. Phần bên phải là chữ KHÍ  (khí là sự sống, viết đủ nét là 氣). Mọi vật tràn trề sức sống, thường dùng để chỉ sự nam tính, kiện tráng

Khảo 考 [kǎo] có nghĩa là thí nghiệm, kiểm tra, kiểm tra, phồn thể . Khảo 拷 có thêm bộ thủlà cái tay nữa tác động vào  ám chỉ việc tra tấn, làm cho đau đớn, khổ sở, chỉ việc thử thách.

Khí 氣 [qì] thể khí, hơi thở thuộc bộ mễ 米  âm khí气, chưng cất rượu từ gạo hay nếp (mễ), nước bốc hơi thành khí. Khi cúng bái phải có tam bửu bông, rượu, trà tương ưng với tinh, khí, thần.

Mục [mù] mắt, danh mục, xem ; là con mắt nhìn ra, cốt để thấy vật bên ngoài, khoa-học gọi đó là cơ quan thị giác. Mắt phải có hai mới thấy rõ sự vật. Gọi là lưỡng mục

Nhãn 眼 [yǎn] mắt, mấu chốt then chôn là mắt nhìn vào trong. Chữ Nhãn kết hợp bởi Mục 目 và Cấn 艮 là núi. Hình ảnh của Mắt khi nhìn ra bị núi chắn lại nên phải nhìn vào bên trong, tức là sự sáng bằng tâm linh còn gọi là con mắt thấu thị.

Niệm  [niàn] họp bởi chữ nhân 人 và kế đến là nhị 二 sau cùng là bộ tâm 心 tức nhiên là bạn đồng sanh với nhau lòng ta luôn nghĩ đến gọi là niệm, nghĩa là thường nhắc nhớ hay tưởng nghĩ đến.

Khổ 苦 [kǔ] khó, đắng, lo;phần chính yếu là âm CỔ 古 là xưa, là một việc đã có tự lâu đời rồi mà miệng (khẩu 口) vẫn còn nhắc đến mười (thập 十) lần, tiếp diễn không dứt. Một bộ thảo    là cỏ đặt ở bên trên, nghĩa chung chữ khổ là luật định của vũ trụ không khác, tuy nhiên nếu người biết tu, tức là hoán cải cái khổ này cũng dễ như giọt sương trên ngọn cỏ

 梨 [lí] phía trên là Hòa 禾 (cây lúa) họp với Đao刂 và dưới là bộ MỘC 木

Tính 性[xìng] Tính tự tâm sanh 性自心生; chữ Tính 性 do bộ tâm 忄họp với chữ sinh 生 ý nghĩa tính của người do tâm mà sinh ra.

Tình   [qíng] chữ tình 情 cũng do lối chiết tự, tức nhiên do bộ tâm 忄họp với chữ tinh 青, còn đọc là thanh, nghĩa là tình cảm thì phải cao-thượng.

TÌNH 情 : Gồm bộ Tâm đứng 忄+ chữ Thanh 青.  Thể hiện lòng người thanh cao, trong sáng đứng giữa bầu trời bao la

Tĩnh 静 [jìng] = yên ổn, tịnh, tĩnh; bầu trời trong xanh (青)không còn nghe tiếng súng nổ đao binh của chiến tranh (争). Phồn thể 

Tịnh 靖 [jìng] = bình yên, bình tĩnh Tịnh là sự yên-lặng hoàn-toàn. Qua bốn chiều không-gian thì chữ Tịnh  ở dưới cùng như nước lắng đọng trong lòng giếng.

Nghĩa  義 [yì] = lẻ phải, công bằng, nghĩa, Dương 羊 là con dê, phần dưới là chữ ngã 我 là ta. Dê là một trong ba con vật Trâu, Dê, Heo để tê sống  đem ra tế Thần linh, Trời đất, thể hiện tinh thần Hiến dâng. Còn chữ Ngã là ta đặt ở dưới sự hy sinh, tức là tinh thần phụng sự. Chữ NGHĨA 義 là một đức tính cao đẹp, nó gồm đủ tính cách Hiến dâng và Phụng sự. Giản thể 义

Ngục 獄 [ yù ] là nhà giam: gồm có bộ khuyển犭là con chó, thêm phía sau là chữ khuyển 犬, ở giữa là ngôn 言  lời nói. Hễ là tù rồi thì người ta đối xử bị đối xử tệ bạc như con vật, con chó, có miệng cũng không nói được gì. Giản thể 

Tù 囚 [qiú] cũng tượng hình cho thấy người (chữ nhân 人) bị nhốt trong bốn bức tường kín

Nguyên  [yuán] họp bởi chữ ngột 兀 là cao chót vót, thêm vào nét nhất ở trên để chỉ cái lý duy nhất

Nhạc  樂 [ lè ] là Âm nhạccòn đọc là Lạc có nghĩa là vui. Tức nhiên trong lòng tự nhiên có sự thanh thản, vui vẻ thì tiếng đờn mới thoát ra du dương, nhẹ nhàng, thanh thoát. Người nghe cũng vậy nhờ tiếng nhạc đủ sức thu hút, tâm hồn mới trầm lắng mà phấn khởi tinh thần. Giản thể 

Nho  [ rú ]: Bên trái là bộ nhân 人 nhân là người, bên phải là chữ nhu  nhu là sự cần yếu,  nhưng trong chữ nhu này có thể còn thấy hai yếu-tố kết-hợp nữa: Trên là chữ vũ 雨 là mưa, dưới chữ nhi 而 là mày. Tóm lại, kẻ được gọi là Nho-sĩ hay thông-nho là kẻ ấy rất cần-ích cho mọi người. 

Nhân 人  [ rén ] là người, có hai nét là do Âm Dương hòa hợp; nét trái là chân Âm, nét phải là chân Dương. Nếu chữ nhân 人(người) hợp với chữ nhị 二 (là hai) thành ra chữ thiên 天 Trong chữ Nhị thì nét nhứt trên chỉ trời, nét nhứt dưới chỉ đất

Nhân 仁 Là nhân ái, hào hiệp, phóng khoáng, biết thương người mến vật. hột giống

Nhân 因 là đầu mối của sự việc, nguyên nhân, bởi vì do vậy

Nhân 姻 là chỉ về hôn nhân, nhân duyên. Có bộ Nữ 女 (gái) đứng trước chữ nhân thứ ba 因. Điều này cho thấy rằng trong việc hôn nhân thì vai trò chính là Nữ-phái. nhà trai, bố vợ gọi là hôn, bố chồng gọi là nhân

Nhũ  乳 Nhũ là vú, phía trên bên là bộ trảo 爫 là móng vuốt và dưới là chữ khổng 孔 (cái lỗ), nghĩa là trong vú có nhiều lỗ, chính là nơi phát xuất những tia sữa cho trẻ con bú

Pháp 法 nghĩa là phép, là phương pháp; cũng có nghĩa là một sự mầu nhiệm (huyền pháp, tâm pháp…) bên trái bộ thủy 氵là nước, tức nhiên những chữ nào bất cứ mà có bộ thủy này đều có liên quan đến nước. Bên phải chữ khử 去 nghĩa là dùng nước để khử trược. Như nước pháp mà trong Tôn giáo dùng vào việc Tắm Thánh

Bác 博 thuộc về bộ thập 十 và chữ chuyên 專 là chở đi rộng khắp. 1. rộng 2. thống suốt 3. đánh bạc. BÁC-ÁI 博 愛 bác ái là tình thương lớn rộng

Càn Khôn  乾 坤 . Chữ Càn hay Kiền 乾 chỉ sự nam tính. Chữ Khôn  chỉ nữ giới là đất gồm có bộ Thổ 土 (là đất) và chữ thân 申 (là trải dài) vậy có nghĩa là toàn cả mặt địa cầu này đất và đất, nên gọi là quả đất.

Cầu 求 là xin, nguyện 願 là hứa.

Chung 鍾 thấy có hai phần, đủ cả âm dương. Bên trái là bộ Kim 金 tức là kim loại, phát ra âm thanh, bên phải là chữ trọng 重 là nặng, còn đọc là trùng lấy làm âm.Ghép lại đọc là Chung.

Đỉnh 鼎 (13 nét) vẽ hình cái đỉnh có ba chân.

CHUNG ĐỈNH  鍾 鼎 Chung là cái chuông, đánh lên có âm thanh vang xa cho mọi người nghe thấy. Nơi chùa tiếng chuông làm cảnh tỉnh người sống và thức tỉnh hồn người chết. Đỉnh là cái vạc, cái đỉnh. Ban đầu nhà giàu có dùng cái đỉnh để nấu thức ăn, sau dùng đỉnh để trưng bày sự quyền quí cao sang và để tỏ sự linh thiêng, sau nữa người ta dùng đỉnh để thắp nhang nơi công cộng: chùa, đình, miếu…Đỉnh chung còn nói lên sự giàu có, cao sang, quyền quí… trong nhà nhiều kẻ ăn, người ở nên phải dùng đến cái đỉnh to mà nấu cơm hoặc thức ăn, mỗi khi đến bữa ăn phải báo động bằng tiếng chuông.

Đại 大 gồm chữ Nhân 人 : phết một nét bên trái丿ấy là chơn Dương, kế một phết bên mặt ấy là chơn Âm. Thành thử con người là bán âm bán dương mới đứng vào hàng tam tài: Thiên, Địa, Nhân. “nhơn đắc nhứt” thành chữ đại 大 nên gọi “Nhứt nhơn viết đại” 一人曰大.

Đồng 同  là cùng chung, nét khung 冂 chỉ bầu trời cao rộng, bên trong có loài ngươì cùng sống với nhau, cùng một tư tưởng (chữ khẩu 口 là miệng; là cùng một tư tưởng) và chữ nhứt 一 (nhứt là một: một tôn-giáo, một nhân-chủng, một xã hội).

Đại đồng 大 同 Đó là hình ảnh một thế giới loài người cùng có chung một tiếng nói, một tư tưởng như nhau.

Phu 夫 Yêu em anh muốn nên duyên, Sợ e em có chữ Thiên 天 trồi đầu. Đây, ý lo ngại phát xuất từ trong lòng người con trai mới lớn lên, thấy cô gái thanh lịch muốn cưới làm vợ, nhưng sợ người con gái đã có chồng hoặc có con rồi. Nên chữ “duyên thiên” là duyên trời định tóc tơ, ngoài ra chữ thiên 天 thì gồm có chữ nhị và nhân, nhưng nếu “nhô đầu dọc” tức là có nét “nhô” lên thành ra chữ Phu 夫 là chồng.

Tử 子 Duyên thiên chửa thấy nhô đầu dọc, Phận liễu sao đành nảy nét ngang: chữ liễu 了 là chỉ người con gái thân hình mảnh mai như cây liễu, (mượn âm liễu, chứ cây liễu viết khác 柳), mà có “nảy nét ngang” thành ra chữ Tử 子 là con. Cả hai câu này sợ rằng người con gái đã có chồng và lại có con, trong khi chưa nghe đám cưới.

Náo 闹 (閙, 鬧) [nào] Thị tại môn tiền náo, Nguyệt lai môn hạ nhàn.  巿 在 門 前 鬧,  月 來 門 下 閒.  Đây là một lối chơi chữ, chiết tự: Câu đầu: chữ Thị 巿 là chợ, Tại 在 là ở, môn 門 là cửa, tiền 前 là phía trước, náo 鬧 là ồn ào, náo nhiệt. Bây giờ nếu lấy chữ Thị đặt dưới chữ môn thành ra chữ náo 鬧. Tương tự nếu lầy chữ nguyệt 月là mặt trăng, đặt dưới chữ Môn 門 thành ra chữ Nhàn 閒 (nhàn rỗi). Cả câu ý nghĩa là: chợ đặt trước cửa nhà thì ồn ào, náo nhiệt. trăng đến trước cửa nhà thì là nhàn.

An 安 An  nữ khứ thỉ nhập vi gia, Tù nhân xuất vương lai thành quốc.  安 女 去 矢 入 為 家,  囚 人 出 王 來 成. Trong chữ An  là yên ổn,  nếu chữ nữ 女 ở phía dưới lấy ra, (nữ là con gái. Khứ 去 là đi ra, đem ra), và đặt chữ Thỉ  thế vào (Thỉ là con heo) thì thành ra chữ gia  (là nhà, gia đình)

Câu dưới khởi đầu là chữ tù 囚 Trong chữ tù có chữ nhân 人 là người và bộ vi 囗 là bao quanh. Bây giờ nếu lấy chữ nhân ra (xuất 出 là đi ra). Lại đặt chữ vương 王 vào (Lai 來 là vào, hay đến; thành 成 là nên) hóa ra chữ quốc . Chữ quốc có vương ở trong, đó là một quốc gia thiên định.

Trở lại hai câu trên thì chữ an 安 gồm bộ miên tượng mái nhà và chữ Nữ. Ý nói rằng người nữ phái đem lại sự an ổn, yên vui, làm đẹp cho gia đình.

Gia 家 tại sao chữ thỉ (con heo) lại đặt dưới bộ miên là mái nhà? Bởi người xưa thấy trong gia đình có bàn tay người nữ phái là cần kiệm, chu đáo, lo lắng dành dụm, nuôi vài con heo, xem như bỏ ống để khi chi dụng bán ra có thêm tiền. có câu: Đàn bà thì phải nuôi heo, Thời vận còn nghèo nuối chửa được trâu.

Phục 伏 bên phải bộ nhân 亻bên trái chữ 犬 khuyển, chỉ con chó nằm cạnh bên người. Chữ Phục hàm ý là nằm xuống, phủ phục, áp mặt vào, nghĩa mở rộng là ẩn nấp, trốn tránh, mai phục, hay chỉ sự khuất phục, thuần phục

Thú 趣 nghĩa là thú vui, ham thích: gồm bộ TẨU (走) và âm đọc THỦ (取). Âm THỦ (取) lại gồm NHĨ (耳 mimi Tai) và HỰU (又), tức là “lại nghe thấy”, ý nghĩa là “lấy, lấy về”. Bước ra cuộc sống để tìm lấy những thú vui để mang lại lợi ích, niềm vui cho bản thân mình

Diễn 演 (số nét: 14) 1. diễn ra 2. diễn thuyết, diễn giảng, nói rõ 3. làm thử, mô phỏng, tập trước: được ghép đầu tiên bộ THỦY (水) vì đã diễn thì phải nói, văng nước miếng tùm lum, nên bộ chính phải là bộ Thủy, Bên trên là cái nón đội, rất cầu kỳ còn có chỏm nữa bộ Miên (宀), phần dưới là đầu (-), cổ (|), phần thân (田) và 2 chân (八). Cuộc đời giống như một sân khấu, kiếp người giống của một màn kịch, do vậy con người chính là 1 diễn viên trong đó , sẽ có lúc sẽ hiền hoà như 1 dòng sông chảy trôi chảy (Thuỷ), đôi khi phải mạnh mẽ, oai vệ như loài thú dữ (Dần)

HẠ 夏 mùa HÈ (HẠ) tới : mùa hè ĐI DẠO (bộ Tuy 夂 đi chậm, đi dạo) nhìn (MỤC 目) lên ngửa cổ (`) thấy có 1 (一) mặt trời

Việt 越: nghĩa là vượt qua, Việt Nam, được viết theo lối chữ Triện thời Tây Hán. Chữ tẩu 走 dùng để xác định ý nghĩa và chữ qua 戈 dùng xác định cách phát âm. Chữ Việt giống như một người cầm cái qua (戈). Trong Hán ngữ chữ “qua” (戈) có nghĩa là cái mác (vũ khí)

Nhẫn 忍 chịu đựng, nhẫn nhịn : gồm 心 tâm + đao 刀 + bộ chủ丶, hiểu đơn giản là NHẪN tức là TỰ CHỦ cầm ĐAO đâm vào TIM mình, nên người nào nhẫn thường thấy ĐAU và KHÓ CHỊU. Nhẫn còn có thể hiểu là làm chủ nguy hiểm. Nhẫn 忍 = 1 dao gâm tim

Mỹ 美 : thuộc bộ dương 羊, dưới là chữ đại 大. Nghĩa gốc xuất phát từ món ăn của dân du mục, thịt dê, dê lớn thì béo, thì ngon. Cùng nghĩa với chữ “Thiện 膳”, “thiện” cũng có nghĩa là thức ăn ngon. Sau này mới mở rộng nghĩa cho những gì tốt đẹp, hài lòng, lý tưởng, khen ngợi

Biệt 別: theo nối cổ được cấu tạo như sau, bên trái là chữ cốt 冎 vốn chỉ đầu, xương người, bên phải là chữ đao 刀. Chữ Giáp Cốt Văn, bên trái giống hình đống xương người, bên phải có một con dao, biểu thị việc dùng dao lọc thịt ra khỏi xương. Do đó, nghĩa gốc của chữ BIỆT là lọc xương; nghĩa rộng là 1. chia tay, xa cách 2. khác biệt 3. quay, ngoảnh, chuyển 4. chia ra, phân ra 5. phân biệt 6. cài, gài, giắt, cặp, găm 7. đừng, chớ 8. hẳn là, chắc là. Giản thể 别

 Lợi 利 : trong văn tự cổ gồm bộ HÒA (禾) (cây lúa) và bộ ĐAO (刀), biểu thị nghĩa dùng dao cắt lúa. Dao cắt lúa chắc chắn phải rất sắc. Do đó, nghĩa gốc của từ LỢI là sắc bén, sắc nhọn, nghĩa rộng là lợi ích, công dụng. Có LÚA để dùng DAO cắt chứng tỏ năm đó được mùa

Gian 姦 Gian: xảo trá; không ngay thật. Theo quan niệm và thành kiến của cổ nhân phụ nữ có nhiều tính hư nên chữ nữ còn có nghĩa bóng là tật xấu. Vậy ba chữ nữ ghép lại ngụ ý nhiều tật xấu chung lộn lại thành tính gian. Giản thể 

 Tiên 仙 Bên phải là chữ Nhân (người) bên trái là chữ sơn (núi) theo quan niệm của người trung quốc xưa những người sống trên núi cao, nơi cách biệt với thế giới con người thì thường là bậc kỳ tài hay là Tiên nhân.  1. tiên, người đã tu luyện 2. đồng xu
Quý 贵: sự trung thành (chữ Trung 中) là một thứ ( chữ Nhất 一) bảo bối (chữ Bối贝) đáng quý, đáng trân trọng.
Tín : Một người ( chữ Nhân ) luôn sống có trách nhiệm với những lời nói ( chữ Ngôn) mà mình đã nói ra.
Hưu 休 nghỉ ngơi. Khi làm đồng mệt người xưa 人 thường dựa vào gốc cây 木 để nghỉ ngơi.
Lầu 楼 [lóu] – có nghĩa là tòa nhà, lầu, cao ốc… Trong chữ 楼 (lóu) – LẦU có các bộ:  木 (mù) – MỘC có nghĩa là gỗ, cây cối ; 米 (mǐ) – MỄ có nghĩa là GẠO ; 女 (Nǚ) – NỮ có nghĩa là nữ giới, con gái, đàn bà. Một thứ được làm toàn bằng gỗ, bên trong có nhiều thức ăn và rượu (cơm và rượu đều làm từ GẠO mà ra), lại có nhiều con gái thì chính là LẦU xanh. ==> Từ đó là LẦU.

Khí 汽 ( khí) + (bộ thủy) : chữ khí nghĩa là hơi nước gồm chữ khí 气 (thể hơi ) và bộ thủy (nước)

Giảo 咬 = +  : chữ giảo 咬  [yǎo] nghĩa là cắn gồm chữ khẩu  cái miệng và chữ giao 交 [jiāo] nghĩa là tiếp xúc gắn liền. Hay đọc đam thì có thể gặp từ này ha.

Thất 失 này gồm có dấu ‘ và chữ PHU 夫 (người chồng, đàn ông có vợ), dấu ‘ này chính là nước mắt đó, chảy ròng như suối. Người đàn ông mà khóc nghĩa là mất mát rất lớn. Nên chữ này là THẤT 失 = Mất.

ĐÔNG 冬 mùa ĐÔNG bạn ĐI (bộ Tuy 夂 đi chậm, đi dạo) trong TUYẾT RƠI (〝). 冬 fuyu = mùa đông 冬季

Xuân 春 : 1 ngày (日) ra đường thấy ba (三) người (人)cùng đi tức là mùa xuân (春

Trụ 住 [zhù] 1. ở, trú, trọ. 2. dừng lại. Người (亻) làm chủ (主) nơi họ cư ngụ, sinh sống (住)

 Sở 所 [suǒ]  nơi chốn. Sau cánh cửa 戸 là nơi (所) người xưa dựng rìu  chữ cân [jīn]

Kinh[jīng]  thủ đô. Thực chất đây là chữ tượng hình, vẽ một ngôi nhà trên đồi

………………..

安 (Ān): Ở trên là bộ 宀 miên => mái nhà mái che, Ở dưới là bộ女 nữ => nữ giới, con gái, đàn bà
(Ý nghĩa) =>Người phụ nữ ở dưới trong nhà thì rất “an” toàn.
Ví dụ: 安全 (Ānquán) – An Toàn

忍(Rěn): Ở trên là bộ 刀 đao (刂) => con dao, cây đao (vũkhí). Ở dưới là bộ心 tâm (忄)=> quả tim, tâm trí, tấm lòng
(Ý nghĩa)
=> Nếu bạn chịu được đao đâm vào tim bạn là người “nhẫn”.

男(Nán) Ở trên là bộ田 điền => ruộng. Ở dưới là bộ力 lực => sức mạnh
(Ý nghĩa) => Người dùng lực nâng được cả ruộng lên vai => người đàn ông, nam giới.
Ví dụ: Nam nữ thụ thụ bất thân -男女受受不亲 (Nánnǚ shòu shòu bù qīn)

心(Xīn): “Đêm thu gió lọt song đào. Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời”
(Ý nghĩa) => Tâm: Nửa vầng trăng khuyết + 3 sao giữa trời là các nét của chữ Tâm .
Ví dụ: Họa hổ, họa bì, nan họa cốt – Tri nhân tri diện bất tri tâm – 画虎画皮难画骨,知人知面不知心 (Huà hǔ huàpí nán huà gǔ, zhīrén zhī miàn bùzhī xīn)

田(Tián): “ Lưỡng nhật (日) bình đầu nhật. Tứ sơn (山) điên đảo sơn. Lưỡng vương (王) tranh nhất quốc. Tứ khẩu (口) tung hoành gian”
(Ý nghĩa) =>Qua câu này chúng ta nhớ thêm được cả 4 từ:

Nhật: 日 (Rì)- 2 chữ nhật đặt vuông góc với nhau ra chữ Điền田

Sơn: 山 (Shān) – 4 chữ Sơn quay theo 4 chiều chập vào nhau ra chữ Điền: 田

Vương: 王 (Wáng) – 2 chữ Vương đối đầu vuông góc và chập vào nhau cũng ra chữ田

Khẩu:口 (Kǒu)- 4 chữ Khẩu đứng gần nhau ra chữ Điền 田

 德(Dé): “Chim chích mà đậu cành tre. Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm”
(Bên trái có bộ 彳 xích (ở đây có hình tượng con chim chích đậu trên cành tre) – Chích và Xích cũng cùng âm. Bên trên có chữ thập: 十. Dưới chữ十 là chữ Tứ: 四. Dưới nữa là chữ Nhất: 一; Dưới cùng là chữ Tâm: 心)
(Ý nghĩa) => Cứ theo thứ tự của câu thơ mà viết từng phần của chữ Đức sẽ thấy chữ Đức dễ viết vô cùng. Có thể gặp chữ Đức trong tứ Đức của người phụ nữ: Công, Dung, Ngôn, Hạnh

來 (Lái ) giản thể là:” 来” cho dễ viết.
(“ Hai người núp một gốc cây. Tao chẳng thấy mày, mày chẳng thấy tao” => Ở giữa là chữ Mộc 木. Trong hai bên chữ Mộc có 2 chữ Nhân 人
(Ý nghĩa) =>Hai người cứ đuổi theo nhau xung quanh gốc cây thì lúc nào cũng phải đến với nhau ==> Lái

 轟 (Hōng) Sau giản thể là: “” cho dễ viết.
(“ Hởi anh cắp sách đi thi. Ba xe chập lại chữ gì hởi anh?=> Bao gồm 3 chữ Xa 车 chập lại)
(Ý nghĩa) =>Ba xe đi trên đường thì vô cùng ồn ào, náo nhiệt ==> Oanh (trong từ oanh tạc) có nghĩa là oang oang, nổ ầm ầm, tiếng nổ lớn

人(Rén): Một người thì luôn hướng mặt về phía trước để đi, nếu hướng về phía sau thì là chữ 入 – Nhập.

从 (Cóng): Bao gồm 2 chữ人 Nhân đứng cạnh nhau
(Ý nghĩa) => Hai người nối đuôi nhau cũng đi có nghĩa là đi theo ==> Tòng có nghĩa là đi theo, Tòng có thể gặp được ở Tam Tòng Tứ Đức:“Tại gia tòng phụ- Xuất giá tòng phu- Phu tử tòng tử”

众 (Zhòng): Bao gồm 3 chữ 人 Nhân đứng gần nhau
(Ý nghĩa) => Ba người đứng gần nhau thì thành ra đông đúc nên ra từ众 có nghĩa là đông đúc, rất nhiều.
Ví dụ: 群众 (Qúnzhòng) – Quần chúng

木(mù): Một chữ木 có nghĩa là một cái cây. Các nét của chữ này trông giống hệt một cây thông
(Ý nghĩa) => Ví dụ: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ – 金 木 水 火 土 (Jīn mù shuǐ huǒ tǔ)

 林 (Lín): Hai chữ 木 đứng cạnh nhau ra chữ林 nghĩa là rừng Lâm
Ví dụ: 少林 – Shàolín (Thiếu Lâm)

森 (Sēn): Ba chữ木 đứng cạnh nhau ra chữ森 là rậm rạp
15. 口 (Kǒu): 4 nét tạo ra hình vuông tượng hình cho cái mồm
(Ý nghĩa) => Mồm, miệng.
Ví dụ: Nhà bạn có mấy nhân khẩu? 你家有几口人?(Nǐ jiā yǒu jǐ kǒu rén?)
16. 吕 (lǚ): Bao gồm 2 chữ Khẩu 口 hợp với nhau
(Ý nghĩa) => Dùng làm họ Lã, Lữ. Có thể giải thích vui là Lã Bố ngày xưa sức khỏe vô địch, đánh trận hét to cũng vô địch, ngựa Xích thố gầm cũng vô địch. Mồm Lữ Bố ở trên hét + mồm Xích Thố ở dưới gầm ==> đích thị chỉ có Lữ Bố
17. 品 (pǐn): Bao gồm 3 chữ 口 Khẩu hợp vào nhau
(Ý nghĩa) => Phẩm, Vật phẩm. Chỗ này chắc là giải thích 3 cái mồm chập vào hét to đòi quà ==> vật phẩm (cách giải thích này cho vui để dễ nhớ)
18. 一 (yi) : Hạ bất khả hạ, thượng bất khả thượng(下 不 可 下, 上 不 可 上); Chỉ nghi tại hạ, bất khả tại thượng (止 宜 在 下, 不 可 在 上)
(Ý nghĩa) => Nhất. Câu này rất hay, một câu đố chữ.
1 – Hạ bất khả hạ –: Chữ Hạ 下 bỏ hết phần dưới đi
2 – Thượng bất khả thượng: Chữ Thượng上 bỏ hết phần trên đi
3 – Chỉ nghi tại hạ: chữ Nghi宜 chỉ giữ phần dưới
4 – Bất khả tại thượng: chữ Khả可 chỉ giữ phần trên
==> Tất cả các phần giữ lại đều chỉ có 1 nét là chữ Nhất一
Câu này giúp chúng ta nhớ thêm từ Nghi宜 (Yi) (thích nghi), từ bất不 (Bù), từ Khả 可 (Kě) Khả (khả năng), từ 上 và 下。
19. 聖(Shèng): Sau giản thể thành: “圣” cho dễ viết: “Bên trái là tai, bên phải là miệng. Người dạy nhiều chuyện, dưới có chữ vương.”
(Phía trên bên trái có chữ tai耳 (Ěr); Phía trên bên phải có chữ miệng 口 (Kǒu). Ở dưới có chữ Vương (王) – Wáng
(Ý nghĩa) => Chỉ cần nhớ 3 chữ cơ bản kia là có thể viết được chữ Thánh
Ví dụ: Thánh Quan Vũ – 圣关羽 (Shèng guānyǔ)
20. (天) (tian1) : Ở trên có chữ Nhất: 一 (Yī). Ở dưới có chữ đại: 大 (Dà)
(Ý nghĩa) => Thiên.
Cách 1 : Dưới là một người đang dang rộng tay ra ( chữ đại大), trên là chữ nhất一, thể hiện một cái gì bao trùm. Gọi là Trời.
Cách 2: Ở trên là chữ nhất 一, ở dưới là chữ Đại 大, to nhất quả đất này đúng là chỉ có ông trời, bầu trời
21.( 地) (di4) : Bên trái là chữ Thổ 土 (tǔ). Bên phải là chữ Dã也 (yě) với nghĩa là cũng
(Ý nghĩa) => Địa: 地đất: bộ Thổ土là đất, đi với chữ Dã也lấy làm âm ( theo lục thư)
22. (存)( cun2) : Bên trái là chữ Tài 才 (Cái) – tài năng Bên phải là chữ Tử 子 (Zi) – con cái
(Ý nghĩa) => Tồn
Cách 1: Người con có tài thì để ra được của cải ( tồn = còn), nếu bất tài thì chẳng để Tồn ra cái gì hết,chỉ tổ làm phiền cha mẹ.
Cách 2 : Muốn sinh tồn, muốn bảo tồn nòi giống thì phải có tài才 sinh ra con trai子. Câu này ứng với câu: Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại (Bất hiếu có 3 tội, không có con trai nối dõi là tội lớn nhất)
23. (孙)(sun1) : Bên trái có chữ Tử 子 (Zi) – con cái, con trai. Bên phải có chữ Tiểu小 (Xiǎo) – nhỏ, bé
(Ý nghĩa) => Tôn. Hãy để ý cách viết chữ Tử 子 ở bên trái, nét ngang có xu hướng chúc xuống dưới, nhìn rất giống hình tượng người xách cái gì sau lưng. Phía sau lại có chữ Tiểu小 – vậy có thể nhớ: Con cái cõng theo một đứa nhỏ sau lưng => Đúng là cháu rồi! (con nhỏ của con)
24. (家) (Jiā) : Ở trên là bộ 宀 miên => mái nhà mái che, Ở dưới là chữ Thỉ – 豕 (Shǐ) – là con lợn, con heo
(Ý nghĩa) => Gia. Có một cách giải thích: Chữ Thỉ 豕 vốn chỉ con lợn hoang, ngày xưa các cụ bắt về nhốt nó vào chuồng, làm mái宀cho nó, sau này dần dần gọi chuồng có mái là Gia, sau dùng để chỉ nhà luôn. Cách này có vẻ không hay lắm nhưng cũng là một cách để nhớ
25. 國(guó): Sau giản thể thành “国” cho dễ viết . Bên ngoài là chữ Vi 囗(Wéi) có nghĩa là bờ cõi. Ở bên trong có bộ khẩu口(Kǒu). Trên chữ khẩu là chữ Nhất 一 (Yī)
Bên trong còn có chữ Qua 戈 (vũ khí, giáo mác)
(Ý nghĩa) => Quốc. Quốc國 nước,thuộc bộ Vi囗, ta hiểu là bờ cõi. Theo sách thì bên trong là chữ Hoặc或 chỉ thanh. Ta có thể hiểu theo cách khác là: Để giữ Nước國, ta cần hô( khẩu囗), tất cả một一 lòng, cầm vũ khí戈( qua), để bảo vệ bờ cõi(Vi囗).
26. 思 (sī): Ở trên có chữ Điền 田 (Tián). Ở dưới có chữ Tâm 心 (Xīn)
(Ý nghĩa) => Tư. Trong lòng lúc nào cũng phải nghĩ đến đất cát, điền trạch thì tự khắc sẽ sinh ra Suy tư, lo lắng (Tư)
27. 仙(xian1) Bên trái có bộ Nhân đứng (亻). Bên phải có chữ Sơn (山) – Shān
(Ý nghĩa) => Tiên. Một người leo lên đỉnh núi tu hành sẽ thành Tiên. Ví dụ: Thi Tiên Lý Bạch- 诗仙李白 (Shī xian libái)
28. 城 (chéng)Bên trái có bộ Thổ (土) (Tǔ) (đất). Bên phải có chữ Thành成 (Chéng) (thành lập, sáng lập)
(Ý nghĩa) => Thành. Chữ thành lập + đất => Cái thành.
Ví dụ: Trường Thành – 长城 (Chángchéng)
28. 誠(chéng) giản thể là (诚) Bên trái có bộ Ngôn (言) (nghĩa là lời nói). Bên phải có chữ Thành成 (Chéng) (thành lập, sáng lập)
(Ý nghĩa) => Thành. Chữ thành lập + bộ ngôn => lời nói thành thật. Ví dụ: Thành tâm -诚心 (Chéngxīn)
29. 休 (Xiū) Bên trái có bộ Bên trái có bộ Nhân đứng (亻). Bên phải có chữ Mộc (木) (Mù)
(Ý nghĩa) =>Hưu. Một người dựa vào một gốc cây lúc nghỉ ngơi => ra từ Hưu. Ví dụ: Nghỉ ngơi – 休息 (Xiūxí)
30. 富 (fu4) Bên trên có bộ Miên宀 (nghĩa là mới nhất). Ở dưới có bộ Khẩu口(Kǒu) (miệng ăn). Ở dưới cùng có chữ Điền田 (Tián)
(Ý nghĩa) =>Phú. Ở dưới mái nhà có đúng một miệng ăn lại có cả một thửa ruộng thì chắc chắn sẽ giàu có (nhiều miệng ăn nhiều tầu há mồm thì dễ nghèo, bất phú)
31. 吉(Jí) : Bên trên có chữ Sĩ 士 (Shì) – là sĩ tử, kẻ có chí khí. Ở dưới có bộ Khẩu口(Kǒu) (mồm)
(Ý nghĩa) => Cát. Lời nói của kẻ Sĩ tử đều là lời nói tốt đẹp: Cát tường như ý:吉祥如意 ( Jíxiáng rúyì)
32. 失 (Shī): 天(thiên) là trời, cao hơn trời là 夫(phu) . nghĩa là trong quanhệ xã hội-gia đình chồng là người tối cao. Thêm dấu phẩy (失) giống như có thêm một cô kéo áo chồng hoặc là chồng có thêm hàng xách tay (bia ôm, gái ôm) thành ra chữ 失 (thất), Thất là mất, mất chồng là mất tất cả .

9 comments

  1. Tình cờ đọc đc bài này của bạn, mình ko học tiếng trung nhưng cũng thấy khá hay. Không biết có sách nào viết về mấy cái này ko để tìm đọc hầy :’))

    1. mình chỉ copy về thôi, còn bạn muốn học thì nhờ bên hội Học tiếng Trung xem sao, tại mình nghỉ học 1 năm rồi

  2. Tú Anh Nguyễn · · Reply

    Chủ thớt ơi ! ..này mình cũng ko biết hỏi ở mục nào? nên thấy có bạn cmmt mình tiện hỏi nuôn.. hì
    Cho mình hỏi là cái bạn chụp ảnh trong buồn tắm là ai ý ạ? Nếu ko nhầm thì ‘là thụ’ a? >w<

    1. mình thấy trên web Trung thôi. không biết model là ai.

    2. thể theo nguyện ước của thím, mình đã tìm thấy tên nhóc này, 徐浩鑫 – Từ Hạo Hâm, sướng nhá

  3. Bạn ơi, có thể cho mình hỏi, mấy cái này bn học từ đâu ko

    1. Tự gom lại thôi bạn

  4. Heosonglau · · Reply

    Chủ thớt ơi, giải thích cho tớ chữ này với 兴

    1. T.T wo bu zhi dao

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: